VÀI NÉT VỀ CÁI CAO CẢ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

Nguồn: Văn nghệ quân đội
Người gửi: Lê Nam Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:57' 18-02-2009
Dung lượng: 6.5 KB
Số lượt tải: 27
Mô tả:
Xuất phát từ sự thay đổi hệ hình giá trị ở một bối cảnh xã hội – văn hoá mới, văn xuôi Việt Nam sau 1975 ngày càng cho thấy sự đa dạng của các phẩm chất thẩm mĩ. Sự đa dạng đó, một mặt là sự phong phú của các phạm trù thẩm mĩ; mặt khác, là ở sự tương tác, chuyển hoá giữa các phẩm chất thẩm mĩ. Trong vận động đa dạng ấy, cái bi và cái hài hước chiếm vị trí chủ đạo. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa rằng cái cao cả, một dạng phẩm chất từng toả sáng mạnh mẽ trong văn học cách mạng 1945 – 1975, không còn xuất hiện. Cái cao cả, hình tượng người anh hùng vẫn được văn xuôi thể hiện như một giá trị không thể thiếu được trong cuộc sống ngày càng phồn tạp, tất nhiên những giá trị này đã biến đổi trong một hệ thống thẩm mĩ không còn như trước.
PHẠM TUẤN ANH
Cái cao cả trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 có những điểm kế thừa từ những phẩm chất cao cả của văn học cách mạng 1945 – 1975, ngay cả khi chúng ta xem xét các sáng tác từ 1986 trở đi. Trong văn học sử thi, con người cá nhân “siêu việt tồn tại hữu hạn của mình để tự khẳng định mình trong sinh mệnh vô hạn của Tổ quốc, nhân dân, tập thể, đoàn thể, tiến bộ, lí tưởng(1) đã tạo nên một cục diện thẩm mĩ nguyên phiến phù hợp với “trạng thái sử thi của thế giới”. Cái cao cả đã hiển hiện trọn vẹn trong tính lí tưởng hết sức đặc thù của một dân tộc đang vượt lên bằng tất cả sức mạnh ý chí quật cường để dành chiến thắng. Con người trong cái nhìn sử thi đã tự nâng mình lên, đồng nhất mình với những phạm trù lớn lao. Con người quần chúng chính là sản phẩm của quá trình đồng nhất đó. Chiều kích của con người cá nhân đã được thay thế bằng chiều kích lí tưởng của Tổ quốc, nhân dân, giai cấp, lí tưởng cách mạng,… Hình tượng cao cả của văn học cách mạng như thế đã tạo ra một hiệu quả tác động thẩm mĩ đặc thù. Người tiếp nhận, những cá thể, cũng tự đồng nhất, tự đặt mình vào trạng thái vĩ đại, siêu việt. Nói cách khác, cá thể với sự hữu hạn của mình không thể tri nhận trọn vẹn được những phạm trù trừu tượng mà vĩ đại, song hứng khởi sử thi với sức mạnh cuốn hút của nó đã khiến con người cá nhân hoà mình vào cái lớn lao như một cuộc “lột xác” màu nhiệm. Con người hân hoan khi phát hiện thấy trong cái chung phẩm chất cao cả của mình. Trong văn xuôi đổi mới sau 1975 cũng không hiếm những hình tượng cao cả như thế. Cánh đồng phía Tây của Hồ Phương, Lõm của Sơn Tùng, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, truyện lịch sử của Ngô Văn Phú, kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường,… vẫn âm vang chất cao cả sử thi như những giá trị bất diệt, trường tồn. Hồ Phương viết về chiến dịch Điện Biên lịch sử với những người anh hùng như Dũng, Nguyệt Lệ, Lanh, Noãn, Hoàng, Minh,… Câu chuyện tình yêu dang dở của Dũng và Nguyệt Lệ đan cài với cái khốc liệt của bom đạn chiến tranh càng tô đậm thêm vẻ đẹp anh hùng của những con người đang hiến dâng tất cả cho chiến thắng của dân tộc. Tình yêu của họ rất đời thường song cũng rất đỗi phi thường. Hồ Phương cũng đã dựng lên những tượng đài đẹp đẽ về sự dũng cảm của người chiến sĩ. Sau khi đã bị thương, một người đã mù mắt và một người dập nát cả hai tay, Minh và Hoàng đã dựa vào nhau để chiến đấu: “Cứ như thế, hai người chiến sĩ, một mù, một què cùng dựa vào nhau chiến đấu. Họ tiếp tục giữ vững mẩu chiến hào còn lại. Họ đang vẽ lên một quang cảnh mà có lẽ mãi mãi về sau này, đời đời con cháu ta sẽ còn nhắc, như nhắc lại những huyền thoại tuyệt vời của dân tộc…”. Tác giả cũng cho chúng ta thấy vẻ đẹp của đoàn quân vào trận qua con mắt vốn đã thấm đủ những đắng cay, thù hận của Dũng: “Anh đứng ở một ngã ba chiến hào, ngắm nhìn các đơn vị bạn rầm rập chạy qua. Các chiến sĩ đều khoẻ mạnh, hăm hở, trang bị hết sức gọn gàng. Đúng là một đội quân thiện chiến. Nhìn mà sướng mắt. Người nọ tiếp người kia, đơn vị này nối đơn vị khác cùng ào ạt, phăng phăng, xé bùn nước vượt lên. Dũng bỗng có cảm tưởng mình đang đứng xem một cuốn phim chiến trận tuyệt vời nào đó. Trong lòng anh dào dạt những cảm xúc mãnh liệt. (…) Có lẽ cả đời chiến đấu của Dũng chưa bao giờ được chứng kiến một quang cảnh đẹp đẽ, hùng tráng đến thế này…”. Khoái cảm cao cả là một trạng thái có thực của tâm lí con người nói chung. Ở đó khát vọng được thoả mãn. Lõm của Sơn Tùng có đoạn kể về cuộc đối thoại giữa Điệp và Thuỳ Phương, hai cô gái ăn chơi ở đất Sài Gòn nói về sự cảm phục đối với cái cao thượng của người chiến sĩ giải phóng: “- Em đã thất vọng, hoàn toàn mất lòng tin. Em ngờ vực khinh hết trọi mọi đàn ông có chức tước. Nhưng từ tối qua tiếp xúc với người đàn ông đào binh này, một người đồng hương với chị, gốc Bắc, đã làm đảo lộn mọi sự suy nghĩ của em. Em đâu ngờ một người đã nhịn đói mấy ngày liền mà ngồi trước bàn ăn, có nhiều món ăn ngon, hai mắt vẫn dửng dưng gắp ăn từ tốn.Người nào coi miếng ăn là nhỏ, người đó sẽ làm nên việc lớn cho đời. (…) Rồi lúc đưa ảnh lên giường ngủ, em lại thử ảnh… em vờ lên giường thả mùng, quạt muỗi, sửa lại gối mà trên thân thể em lúc đó chỉ có ba mụn vải. Nhưng ảnh vẫn giữ trong mắt mình ánh sáng lung linh, không một bóng tối phủ xuống”. Điệp đã ngỡ ngàng trước phẩm chất của người chiến sĩ giải phóng và rồi được cảm hoá theo cách mạng. Con người đã tự nâng mình lên khỏi những cái tầm thường để tìm thấy phẩm giá của mình ở những giá trị cao cả. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã đồng nhất cái “tôi” của mình vào sự sống của đất đai xứ sở, vào vẻ đẹp, chiều sâu văn hoá của Huế. Ai đã đặt tên cho dòng sông là một điển hình cho sự đồng nhất này. Cho nên, chúng ta mới được thấy một cái “tôi” tài hoa, tinh tế mà uyên bác Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhập vào sông Hương, vào những trầm tích lịch sử văn hoá lâu đời theo dòng chảy của sông Hương, cái “tôi” ấy đã tìm đến một sự tự biểu hiện cao cả, bền chặt. Con đường khẳng định bản lĩnh, giá trị sống như thế, thời nào cũng cần.Kant cho rằng cái cao cả chỉ “đạt tới những ý tưởng của lí trí” mà không đạt tới “một đối tượng nào của tự nhiên” - và do đó mà không thể nằm trong một hình thức cảm tính nào(2). Hêghen thì phát biểu rằng “ở trong cái trác tuyệt thì sự tồn tại bên ngoài (ở đây bản chất trở thành một đối tượng được chiêm ngưỡng lại bị hạ thấp so với bản chất) và sự hạ thấp nó xuống trình độ một cái gì phụ thuộc”, “so với nó thì yếu tố bên ngoài chỉ làm thành một cái gì phụ thuộc, bởi vì yếu tố bên trong không có mặt ở đấy mà vượt xa ra ngoài phạm vi của yếu tố bên ngoài. Kết quả là đối tượng được miêu tả đó là sự thoát li và sự tồn tại của yếu tố bên trong ở ngoài phạm vi của cái bên ngoài chứ không phải là cái gì khác trở thành đối tượng miêu tả” (ở đây sublime được dịch là cái trác tuyệt)(3).Như vậy, có thể hiểu: 1/Trong tự nhiên và xã hội luôn có những sự vật, hiện tượng với quy mô to lớn, vượt ra khỏi khả năng giác quan của cá thể; 2/Những chiều kích cực lớn trở thành phẩm chất thẩm mĩ cao cả khi con người cá thể tự nâng mình lên, thoát khỏi cảm giác choáng ngợp để có thể cảm nhận được vẻ đẹp của chiều kích đó; 3/Cái cao cả, với bản chất siêu việt của nó luôn là giá trị cần thiết cho sự sống nhân văn của con người, nó nâng đỡ con người, là điểm tựa để con người vượt lên cái hữu hạn, tính bất toàn của thế giới và cuộc đời. Những giá trị cao cả, như thế không bao giờ mất đi ý nghĩa trong cuộc sống của con người.Tuy nhiên, chỉ thấy cái cao cả của Tổ quốc, của sự nghiệp cách mạng, của giai cấp… văn học sẽ dễ lãng quên những giá trị cá nhân, cái cao cả từ những giá trị sống của cá thể. Phản ứng gay gắt, có phần cực đoan của PhạmThị Hoài trong Thiên sứ về chủ nghĩa hiện thực cổ điển và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một biểu hiện cho nhu cầu cân bằng đặt ra cho văn xuôi thời kì mới. Ngô Văn Phú, người say sưa với những câu chuyện lịch sử ngợi ca những tấm gương trung liệt, vẻ đẹp của truyền thống đạo lí (tiêu biểu là ở các truyện trong tập Một đời hoàng phái) có một truyện tên là Nhật kí một chuyện tình. Câu chuyện được kể dưới hình thức nhật kí, một hình thức có hiệu quả trong việc tạo ra niềm tin về cái có thật. Vợ của viên quận trưởng, thiếu tá quân lực cộng hoà đã yêu say đắm anh giải phóng quân: “Em sững sờ! Sao lại có chàng trai xinh đến thế! Gọn ghẽ, thanh thoát. Trong phút cứng nhắc vẫn mềm mại, lịch thiệp. Em đứng trên gác hai nhìn xuống. Anh dẫn chồng em đi… Súng chĩa sau lưng gã, đầy khí thế. Như một người chiến binh kiêu hùng. Chồng em tóc rũ xuống! Còn anh kiêu hãnh… Trời xanh ở phía anh. Em khóc. Lo sợ cả gia đình tan nát. Nhưng em lại thấy mây trắng trên sông đẹp lạ thường. Anh là giải phóng quân đến trong ngày vẻ vang nhất của đời chiến trận”. Sự tương phản giữa một bên tăm tối, bại vong với một bên sáng láng, thắng lợi đã trở thành cấu tứ cho toàn truyện. Cho đến lúc chết, người phụ nữ tha hương nơi đất khách đã sống tủi nhục, ê chề mà vẫn khắc khoải mong ngóng, níu giữ vẻ đẹp ngời ngợi của anh giải phóng quân như một điểm bám víu cuối cùng để được làm người. Số phận bất hạnh của người phụ nữ trong thiên truyện này đã mở ra một cuộc đối thoại về cái cao cả trong muôn mặt đời thường với tất cả những éo le, trắc trở của nó. Sự sống trần trụi, thê thảm và cái cao khiết, lồng lộng, cả hai đều không mất đi, cùng song tồn. Hình thức nhật kí của truyện này nhắc chúng ta nhớ đến hiện tượng Nhật kí Nguyễn Văn Thạc và Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm. Dư luận cồn lên về những dòng ghi chép của những người anh hùng bằng xương bằng thịt, đã hi sinh. Hiện tượng này gợi ra nhiều ý nghĩa. 1/Sự quan tâm của dư luận cho thấy sức sống của những giá trị cao cả. 2/Sự quan tâm của dư luận cho thấy nhu cầu về “sự thật” và trong một chừng mực nào đó là một câu hỏi đặt ra cho khoa học lịch sử cũng như tính chân thật của văn chương. 3/Sự cần thiết của cái cao cả cho cuộc sống mới. Chiến tranh đã lùi vào quá khứ. Văn xuôi cũng đã có những cái nhìn mới đối với những giá trị cao cả. Dòng chảy của đời sống phồn tạp nhiều khi đã khiến cái cao cả không khỏi bị tổn thương. Nhà văn đã có một quan niệm toàn diện hơn về đời sống. Cái cao cả, do đó cũng được nói đến trong mối liên hệ mật thiết hơn đối với nhân sinh, thế sự. Ma Văn Kháng đã sớm bộc lộ dự cảm về tính nhiều mặt của đời sống đồng thời cũng đề cập đến ý thức giữ gìn cái cao cả trong Mùa lá rụng trong vườn. Bên cạnh nỗi đau của ông Bằng như một sự tổn thương, mất mát không tránh khỏi của vẻ đẹp truyền thống tình cảm gia đình người Việt trong đời sống mới, tác giả cũng đã cho thấy tính vững bền quý giá của vẻ đẹp cao cả thuần khiết, nhuần nhị của Hoài, Phượng. Chính những giá trị tốt đẹp đã được hun đúc qua truyền thống văn hoá lâu đời đã tạo nên một sự cân bằng ấm áp, một niềm tin mới vào nhân phẩm, đạo lí trong một thời cuộc ồn ã, xô bồ. Nguyễn Quang Lập trong Người thổi kèn trom-pet kể về Thuỳ Dương, một nữ diễn viên múa sẵn sàng lên đường ra mặt trận, thực hiện “chuyến đi cùng với ý nghĩa thiêng liêng của nó” đã vĩnh viễn mất đi niềm hạnh phúc được đứng trên sân khấu. Hình ảnh Thuỳ Dương bị mất hai chân hoàn toàn đối lập với sự thành công của chàng trai thổi kèn trom-pet trốn tránh ra mặt trận và thành đạt với rất nhiều huy chương vàng. Hồ Thị Hải Âu cũng có một truyện ngắn cảm động về tình thương của người cha trong một gia đình nghèo. Người con gái hơn bốn mươi tuổi đời mới hiểu hết được cái cao cả trong gánh xương trâu mà người cha nghèo tủi gắng kiếm trong ngày Tết (Gánh xương trâu). Văn xuôi đổi mới sau 1975 đã khai thác những giá trị cao cả của đời sống trong một quan niệm thẩm mĩ mới. Cá thể sống không mặc nhiên đồng nhất mình với cái lớn lao, vĩ đại mà luôn phải đối mặt với cảm giác choáng ngợp, nhiều khi là sự tương phản trớ trêu giữa khả năng hữu hạn của mình với những chiều kích cực lớn, thoát khỏi sự kiểm soát của cá thể mình. Trong Đỉnh lũ của Nguyễn Khắc Phục, sức mạnh của thiên nhiên và sức mạnh của con người là một sự tương phản như thế. Tác phẩm như một minh chứng hùng hồn, sâu sắc cho sự biến đổi cái dữ dội, hoang dã, vô nhân tính của thiên nhiên trở thành những giá trị nhân văn của cuộc sống con người. Lân – nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết hiện thân cho sự vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính bản thân mình để xứng tầm và làm chủ thiên nhiên, biến cái sức mạnh vô biên, lấn át và huỷ diệt tất cả của đỉnh nước lũ trở thành giá trị thẩm mĩ cao cả. Trước thiên nhiên, con người đã phải đánh đổi cả sinh mạng, phải gồng mình lên và nếu không có tập thể, không có sự hợp lực, không có trí tuệ thì mãi mãi con người chỉ là những nạn nhân hay một ẩn dụ cho cái nhỏ nhoi, tội nghiệp của sinh linh. Không phải sự mạnh mẽ nào của con người cũng là phẩm chất cao cả. Trương Đồng mạnh mẽ, duy lí đến tàn bạo cũng chỉ là kẻ cơ hội, sâu mọt, vị thành tích cá nhân. Phó tiến sĩ Tuấn chỉ đẹp đẽ khi hướng sức mạnh của mình tới công việc kĩ thuật còn khi rút về với chức vụ, quyền lợi thì chỉ còn là một kẻ hèn kém chuyên kèn cựa, mưu mô đen tối. Chỉ có ở kĩ sư Lân và những người lao động chân chính, sự mạnh mẽ mới khai phóng thành cái cao cả. Họ đã biến cái không thể đo lường, không thể kiểm soát thành cái có thể đo lường, có thể kiểm soát. Đó cũng là những con người sống trọn vẹn với cả những xúc cảm cùng lí trí của mình trước sự hi sinh của những người công nhân xây dựng, tác giả viết: “Hỡi sông Đà, người uống của chúng tôi bao nhiêu máu trước khi chịu nhả ra dòng điện quý báu cho đất nước gian khổ, đau thương và tràn đầy khát vọng này? Lân lặng lẽ khóc trên đường về. Ngọn đèn sinh mệnh của bố Lân đang leo lét. Anh em Lân đang âm thầm đổ máu và mồ hôi cho mỗi khối bê-tông mọc lên. Ngày mai và niềm hi vọng đã trở thành nỗi khắc khoải, canh cánh bên lòng. Đêm nay, ai ngủ yên được?”. Tác giả triết lí: “Công cuộc chinh phục dòng sông không còn là một hình ảnh ẩn dụ. Sông Đà trở thành một trường học vĩ đại, dạy cho con người học sống, học cách tổ chức cuộc đời mình với những phương tiện hiện thực, những thử nghiệm khốc liệt, những đòi hỏi cấp thiết, những thất bại, những chiến công… phù hợp với quy luật phát triển để hướng tới khát vọng. Hơn thế nữa, con người ở đây phải xác tín sự cân bằng của chính mình, trước khi phá vỡ sự cân bằng vô nhân tính của tự nhiên. Khi ấy, thế giới khách quan sẽ tràn ngập thứ năng lượng được giải phóng trong hình thái nhân tạo mới. Như vậy, có sự cân bằng đồng nghĩa với cái chết, đó là cân bằng giá trị đời sống với tiêu chuẩn thực dụng của tham vọng. Có sự cân bằng đồng nhất với sự đổi mình trong khát vọng và đau khổ, hi sinh, khắc khoải và sự đền bù ấm áp của niềm tin thẫm đẫm màu sắc nhân văn và hàm chứa sức mạnh chiến thắng.”. Có thể coi đây là một triết luận tiêu biểu cho cái cao cả, chủ nghĩa anh hùng mới trong đời sống hoà bình. Cái cao cả đã được nhận thức cùng với sự phát hiện mới về sức mạnh của con người cá nhân, cũng có nghĩa là sức mạnh mới của cộng đồng.Những tấm lòng cao cả thường tạo ra sự ngỡ ngàng cho những suy đoán thông thường của người đời. Điều này càng được tô đậm khi con người được thể hiện ở tư cách cá thể sống với vô vàn những bí ẩn mà lí trí nhiều khi bất lực. Một người phụ nữ đã cống hiến hết tuổi xuân của mình nơi chiến trận lại đã âm thầm chịu đựng hi sinh vì hạnh phúc của người mình yêu (Võ Thị Hảo, Người sót lại của Rừng Cười). Một người phụ nữ nhạy cảm, yêu mến những con chim sẻ vì thấy chúng cũng là những sinh thể sống, cũng có tình yêu thương, mẫu tử đã khiến người chồng vô cảm không thể hiểu nổi, và li hôn vì anh chồng đã đánh con mèo nhỏ tàn nhẫn (Hồ Thị Hải Âu, Khi hoàng hôn bình yên). Trước cái cao cả, con người luôn thấy mình bé nhỏ, bị lấn át. Khi đó, con người phải tự nâng mình lên để chiếm lĩnh. Quá trình tự nâng mình lên ấy có thể diễn ra ở nhân vật như Dũng (Cánh đồng phía tây), Lân (Đỉnh lũ), người con gái (Gánh xương trâu)… Nhiều khi, quá trình tự nâng mình lên ấy không diễn ra trực tiếp trong tác phẩm mà được thực hiện ở hình tượng tác giả hay chính người đọc: Mùa lá rụng trong vườn, Khi hoàng hôn bình yên, Người thổi kèn trom-pet… Ở những tác phẩm như thế, cái cao cả thường được thể hiện trong những tình huống trớ trêu của số phận, những nghịch lí của cuộc đời. Tất nhiên, giá trị cao cả đích thực cuối cùng bao giờ cũng được nhân lên trong thế giới tinh thần của người tiếp nhận, dù tác phẩm có sử dụng theo phương thức nào đi chăng nữa.Như vậy, nghệ thuật có thể xây dựng những hình tượng cao cả trong “cái bình thường hằng ngày” không? Thực tế cho thấy, cái cao cả nếu không thể được biểu hiện cùng với cái trần tục, đời thường thì cũng không khác là mấy so với cái “phi trần thế” của tư tưởng nghệ thuật trung cổ, trong khi, từ đó cho đến nay, lịch sử thẩm mĩ của nhân loại đã trải qua bao thời kì lớn, cái cao cả cũng đã mang những đặc trưng thẩm mĩ khác nhau. Đó là chưa tính đến chuyện cái cao cả có thể được bộc lộ ở nhiều phương diện, tầng bậc khác nhau của cấu trúc nghệ thuật. Có khi, một sự ngưỡng vọng hoang tưởng chỉ đem lại hình ảnh về sự thấp hèn của cái nhìn nghệ thuật. Song cũng có khi, cái méo mó, nghịch dị, hèn mọn, cô đơn,… lại hàm chứa một tầm vóc lớn lao, người nghệ sĩ được tự do trong thể nghiệm cao cả của mình. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải nắm bắt biểu hiện của những thuộc tính vĩ đại, siêu việt ở những góc độ khác nhau, đặt nó trong liên hệ với chiều kích triết học mà hình tượng có thể có.Burke đã nói đến xúc cảm bi kịch khi phân biệt giữa cái đẹp và cái cao cả: “Sở thích là vị thẩm phán chắc chắn của cái Đẹp. Cái Đẹp toát lên từ bản năng xã hội, còn cái cao cả thì toát lên từ bản năng bảo tồn. Nguyên nhân thực sự của cái Đẹp, do đó, là “một cảm giác thích thú tích cực làm nảy sinh tình yêu, đi đôi với sự dãn nhẹ những cơ bắp và thần kinh của chúng ta”. Trái lại, cái cao cả gắn liền với sự căng thẳng, với sự trương lên về cơ bắp và thần kinh. Được gợi ra từ một cảm giác đau khổ tốt lành, cái cao cả gắn liền với cái trống rỗng, cái khủng khiếp, bóng tối, sự cô đơn, sự im lặng”(4)#. Sen-ling cũng từng cho rằng: “một bản tính cao cả chỉ có thể bộc lộ trong đau khổ. Một nhân cách cao cả mang tính bi kịch “kiệt sức do các thế lực của tự nhiên nhưng đồng thời vẫn chiến thắng qua phong thái tinh thần của mình”(5). Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tuấn trong Không phải trò đùa của Khuất Quang Thuỵ, Quy trong Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, sư già và ông đại tá về hưu trong Sư già chùa Thắm và ông đại tá hưu của Nguyễn Khải, Đề Thám trong Mưa Nhã Nam của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Qúy Ly trong tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Xuân Khánh,... đã tạo nên bản hợp ca mới về chủ nghĩa anh hùng. Đó là những con người cá nhân không thuần khiết, sáng láng, cũng là những bản thể cô đơn trong sức mạnh lí trí của mình, cái lí trí đã gắn bó máu thịt với xúc cảm đời thường.Cái cao cả trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 khẳng định về sự cần thiết của những giá trị lớn lao trong quá trình hình thành nhân cách mới. Những phẩm chất cao cả trong văn học truyền thống đã được nhận thức cùng với những phẩm chất cách tân về giá trị cá nhân, con người đời thường. Với tư cách ấy, con người phải đối mặt với thách thức không nhỏ để có thể trở nên cao cả. Như thế, từ những con người anh hùng trong hai cuộc kháng chiến gian khổ mà oanh liệt trước 1975 cho đến những nhân vật của quá khứ xa xưa đều hiện lên chân thực hơn, toàn diện hơn. Cái cao cả, nhờ vậy cũng giàu sức lay động, lan toả. Nhân vật có thể vượt lên được hoặc không, nhưng chắc chắn độc giả đã có được những tình huống tự cải biến, nâng cao tầm vóc, khắc phục tính hữu hạn của mình để vươn tới những giá trị bất tử.
------------
1Trần Đình Sử (2001), Văn học và thời gian, NXB Văn học, tr 285.
2 D. Huisman (2004), Mỹ học, NXB Văn hóa thông tin, tr 37.
3 F. Hêghen (1999), Mĩ học, tập 1, NXB Văn học, tr 592
.4 D. Huisman (2004), Sđd, tr 31-32.
5 M.F. Ốp-xi-an-nhi-cốp (2001), Mỹ học cơ bản và nâng cao, NXB Văn hóa thông tin, 200-201.



